Trang chủ > Phòng chống dịch bệnh

CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON

I. Đường lây truyền và không lây truyền của HIV

1. Đường lây truyền của HIV

Cho đến nay, các nhà khoa học đều thống nhất, có 3 đường lây truyền HIV đó là:

- Đường máu;

- Đường tình dục;

- Mẹ nhiễm HIV truyền sang con;

1.1. Lây truyền theo đường máu

HIV có nhiều trong máu, do đó HIV có thể lây truyền qua máu và cả qua các chế phẩm của máu có nhiễm HIV:

- HIV lây truyền từ người này sang người khác qua các dụng cụ đâm chích qua da như:

+  Dùng chung bơm kim tiêm, nhất là với người tiêm chích ma túy;

+  Dùng chung các loại kim xăm trổ, kim châm cứu, các dụng cụ xăm lông mi, xăm mày;

+  Dùng chung các dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ khám chữa bệnh có xuyên cắt qua da hay các dụng cụ truyền máu, lấy máu chưa được tiệt trùng đúng cách.

- Lây truyền qua các vật dụng dính máu của người khác trong các trường hợp như dùng chung lưỡi dao cạo râu, làm móng tay;

 - Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của người nhiễm HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da, niêm mạc bị xây sát. Thường gặp khi cấp cứu cho người nhiễm HIV hay khi trấn áp tội phạm;

- Do truyền máu hay các sản phẩm của máu, cấy ghép các mô, các tạng... bị nhiễm HIV hoặc qua các dụng cụ truyền máu, lấy máu... không được tiệt trùng đúng cách.

 

 

1.2. Lây truyền theo đường tình dục

- HIV có nhiều trong dịch sinh dục (tinh dịch của nam và dịch tiết âm đạo của nữ) nên có thể làm lây truyền từ người này sang người khác khi quan hệ tình dục.

- Tất cả các hình thức quan hệ tình dục (dương vật – hậu môn; dương vật -  âm đạo; dương vật - miệng) với một người nhiễm HIV đều có nguy cơ lây nhiễm HIV. Mức độ nguy cơ là khác nhau, nếu xếp theo thứ tự các “kiểu” quan hệ tình dục có xâm nhập phổ biến thì nguy cơ từ cao đến thấp là: Qua đường hậu môn, qua đường âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng. 

- Các kiểu quan hệ tình dục không xâm nhập (ví dụ như tay - dương vật; tay - âm đạo...) nếu có tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục và nơi tiếp xúc bị tổn thương cũng có nguy cơ lây nhiễm HIV nếu một trong hai bạn tình đã nhiễm HIV. 

1.3. Lây truyền từ mẹ sang con

Người phụ nữ mang thai nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con:

- Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai nhi.

- Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá trình sinh). Trong khi sinh, HIV cũng có thể từ trong máu của mẹ thông qua các vết loét ở cơ quan sinh dục mẹ và xâm nhập vào cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh.

- Khi cho con bú: HIV có trong sữa mẹ nên có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú người mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặc khi trẻ mọc răng cắn núm vú chảy máu.

2. Đường không lây truyền HIV

Ngoài máu, dịch sinh dục, sữa của mẹ, HIV còn có trong các dịch cơ thể khác như nước bọt, nước mắt, nước tiểu, mồ hôi... của người nhiễm HIV, nhưng với nồng độ rất thấp, không đủ để gây lây nhiễm khi tiếp xúc với các lọai dịch này. Do vậy, HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường, như:

- Các hành vi giao tiếp thông thường như bắt tay, ăn uống chung, ôm hôn xã giao;

- Cùng làm việc, cùng học, ở cùng nhà, cùng ngồi trên phương tiện giao thông, cùng đi chợ, ngồi trong rạp hát, rạp chiếu bóng...;

- Dùng chung nhà vệ sinh, buồng tắm, bể bơi công cộng. . .

- Muỗi và các côn trùng khác đốt không làm lây nhiễm HIV...

 Như vậy, chúng ta có thể sống, làm việc, học tập... chung với người nhiễm HIV mà không sợ bị lây nhiễm HIV nếu ta không có sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch sinh dục và các dịch sinh học khác của họ.

II. Nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con

Không phải tất cả trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV đều bị nhiễm HIV. Nếu không can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con sẽ có khoảng 25-40% số trẻ bị nhiễm HIV do mẹ truyền sang.

 

     Khả năng lây truyền HIV từ mẹ sang con theo từng giai đoạn

- Lây truyền khi mang thai: Trong 100 trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV có khoảng 5-10 trẻ bị lây nhiễm HIV trong khi mang thai. Tuy nhiên tỷ lệ này có thể tăng  lên nếu mẹ bị nhiễm HIV trong khi đang có thai hoặc người mẹ bị nhiễm HIV ở giai đoạn muộn mới mang thai.

- Lây truyền trong khi sinh: Khoảng 15 trẻ bị lây nhiễm HIV từ mẹ trong khi sinh. Nhiều nghiên cứu cho rằng sự lây truyền HIV từ mẹ sang con thường xảy ra muộn vào thời kỳ chuyển dạ, hoặc khi đứa trẻ “đi qua” đường sinh dục của mẹ để ra ngoài khi trẻ đã tiếp xúc trực tiếp với dịch âm đạo hoặc máu của mẹ khi chuyển dạ và sinh đẻ.

 - Lây truyền HIV từ mẹ sang con trong thời kỳ cho con bú: HIV có thể từ máu mẹ vào các nang sữa và do đó HIV có trong sữa mẹ và có thể lây nhiễm cho trẻ bú sữa người mẹ nhiễm HIV. Có khoảng từ 5-15 trẻ bị lây nhiễm HIV từ mẹ nếu người mẹ nhiễm HIV sau sinh cho con bú mà không được can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

          Vì vậy, phụ nữ mang thai biết mình bị nhiễm HIV hoặc phụ nữ nhiễm HIV muốn mang thai và muốn sinh con đều cần được tư vấn và cần tuân thủ tốt việc dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Phụ nữ mang thai nhiễm HIV cần đến ngay các cơ sở y tế đăng ký càng sớm càng tốt để được điều trị dự phòng kịp thời. Nếu điều trị muộn hơn kết quả sẽ bị hạn chế.

          Và điểm mới của chương trình điều trị

Với mục tiêu không còn trẻ nhiễm HIV từ những bà mẹ mang thai nhiễm HIV truyền sang, Bộ Y tế đã áp dụng khuyến cáo mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới là điều trị ngay ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV không phụ thuộc vào số lượng tế bào CD4 và giai đoạn lâm sàng.

 

 

 

III. Chiến lược can thiệp toàn diện dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

Chiến lược can thiệp toàn diện để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con gồm 4 thành tố sau:

 

1. Dự phòng sớm lây nhiễm HIV cho phụ nữ

Nếu phụ nữ không nhiễm HIV thì sẽ không có lây truyền HIV từ mẹ sang con. Việc dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con hiện vẫn thường tập trung vào những dịch vụ can thiệp y tế cho phụ nữ mang thai trong khi sinh và sau khi sinh. Tuy nhiên, muốn dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con có hiệu quả thì phải tiến hành các hoạt động dự phòng sớm cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, trước hết hướng vào tất cả những phụ nữ có hành vi nguy cơ hay chồng/bạn tình của họ có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV. 

 Các hoạt động chính của dự phòng sớm là:

- Thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho phụ nữ, nhất là những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và những phụ nữ đang mang thai và chồng hoặc bạn tình của họ;

- Tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ, nhất là những phụ đã hoặc đang có hành vi nguy cơ cao hoặc chồng hoặc bạn tình của họ có hành vi nguy cơ cao;

- Khuyến khích trì hoãn quan hệ tình dục đối với thanh, thiếu niên;

- Khuyến khích thực hành tình dục an toàn cho cả nam và nữ, bao gồm khuyến khích sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục;

- Phát hiện sớm và điều trị kịp thời các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.

2. Phòng mang thai ngoài ý muốn cho phụ nữ mang thai

Trên thực tế nhiều phụ nữ ở các nước đang phát triển không biết về tình trạng nhiễm HIV của mình, do vậy việc tăng cường các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV sẽ giúp cho họ sớm nhận được các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ cần thiết, bao gồm cả các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản, để từ đó họ có thể tự quyết định về đời sống sinh sản của họ trong tương lai với đầy đủ thông tin là cần thiết.

Các dịch vụ chủ yếu là:

- Tư vấn và cung cấp các biện pháp tránh thai để đảm bảo rằng người phụ nữ nhiễm HIV có thể quyết định về sức khoẻ sinh sản của họ với đầy đủ thông tin;

-  Tư vấn và xét nghiệm HIV trong các dịch vụ sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình;

- Tư vấn thực hiện tình dục an toàn cho cả nam và nữ, bao gồm khuyến khích sử dụng bao cao su.

3. Can thiệp dự phòng lây truyền HIV khi phụ nữ mang thai

Với những người phụ nữ nhiễm HIV mang thai cần các dịch vụ chăm sóc, điều trị bằng thuốc kháng vi rút (ARV) cho người phụ nữ đó khi mang thai và cho con của họ khi sinh ra; thực hành sản khoa an toàn; tư vấn và hỗ trợ người phụ nữ nhiễm HIV mang thai và các lựa chọn nuôi dưỡng trẻ sơ sinh thích hợp.

Các dịch vụ trong thành tố này chủ yếu là:

- Chăm sóc thai nghén;

- Tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ trong chăm sóc thai nghén, xét nghiệm lại trong giai đoạn cuối của quá trình mang thai ở những nơi có tỷ lệ nhiễm HIV trong phụ nữ mang thai cao trong cộng đồng;

- Điều trị ARV cho PNMT

Cần điều trị ARV càng sớm càng tốt cho phụ nữ mang thai ngay khi phát hiện nhiễm HIV để giảm tối đa lây truyền HIV từ mẹ sang con. Mục tiêu của điều trị ARV cho phụ nữ mang thai là nhằm đạt được tải lượng HIV dưới ngưỡng ức chế, tốt nhất là dưới ngưỡng phát hiện, chậm nhất vào quý 3 của thai kỳ, đặc biệt là khi chuyển dạ.

Phụ nữ mang thai nhiễm HIV cần được theo dõi hàng tháng, đặc biệt vào thời điểm gần ngày dự kiến sinh.

 

- Thực hành sản khoa an toàn;

- Điều trị DPLTMC cho trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV;

- Tư vấn nuôi dưỡng trẻ sau sinh.

4. Can thiệp dự phòng lây truyền HIV cho phụ nữ sau sinh và con của họ sau sinh

Các dịch vụ trong thành tố này bao gồm:

- Gói dịch vụ cho bà mẹ:

+ Tiếp tục điều trị kháng vi rút (ARV) cho bà mẹ;

+ Điều trị dự phòng bằng Co-trimoxazole;

+ Tư vấn và hỗ trợ tiếp tục về phương thức nuôi dưỡng trẻ;

+ Tư vấn và hỗ trợ về dinh dưỡng cho bà mẹ;

+ Cung cấp các dịch vụ về sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục bao gồm cả kế hoạch hoá gia đình;

+ Tư vấn chuyển tuyến chuyển tiếp các bà mẹ tới các cơ sở chăm sóc điều trị HIV;

+ Hỗ trợ về tâm lý cho bà mẹ;

- Gói dịch vụ cho trẻ phơi nhiễm:    

+ Điều trị dự phòng bằng ARV;

+ Theo dõi và điều trị AIDS cho trẻ đúng theo hướng dẫn của bộ y tế

+ Theo dõi định kỳ sự phát triển và miễn dịch của trẻ;

+ Điều trị dự phòng bằng Co-trimoxazole khi trẻ được 6 tuần tuổi;

+ Xét nghiệm chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV khi trẻ 4-6 tuần tuổi;

+ Xét nghiệm huyết thanh học cho trẻ từ 18 tháng tuổi;

+ Tư vấn và hỗ trợ tiếp theo về việc nuôi dưỡng trẻ:

Tư vấn nuôi dưỡng trẻ cần thực hiện trước khi sinh và căn cứ vào điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình của người mẹ, cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của từng phương án nuôi dưỡng trẻ, các biện pháp cần được thực hiện để ngăn ngừa tối đa việc trẻ nhiễm HIV từ sữa mẹ.

Nếu nuôi con bằng sữa mẹ: Người mẹ phải được điều trị bằng thuốc ARV và tuân thủ điều trị tốt để đạt được tải lưỡng HIV dưới ngưỡng ức chế, tốt nhất dưới ngưỡng phát hiện.

Nếu nuôi con bằng sữa ăn thay thế: người mẹ chỉ thực hiện nuôi con bằng sữa ăn thay thế nếu đáp ứng các điều kiện dưới đây:

- Đảm bảo cung cấp đủ sữa ăn thay thế hoàn toàn trong 6 tháng đầu, có nước sạch và đảm bảo sữa ăn thay thế đảm bảo an toàn, hợp vệ sinh và đủ số lượng phù hợp với tuổi của trẻ.

- Có sự hỗ trợ của gia đình.

+ Sàng lọc và quản lý lao cho trẻ;

+ Phòng và điều trị sốt rét;

+ Chăm sóc và hỗ trợ về dinh dưỡng, tâm lý;

+ Chuyển tiếp tới các cơ sở Nhi khoa

- Gói dịch vụ cho trẻ nhiễm HIV:    

+ Tiêm chủng có điều chỉnh và theo dõi hỗ trợ tăng trưởng

+ Theo dõi, phân loại lâm sàng và điều trị khi cần thiết;

+ Tư vấn về dinh dưỡng và nuôi dưỡng trẻ:

+ Điều trị nhiễm trùng cơ hội bằng Co-trimoxazole;

+ Dự phòng lao và sốt rét;

+ Điều trị thuốc kháng vi rút;

+ Chăm sóc tâm lý, xã hội và chuyển tuyến;

+ Chăm sóc giảm nhẹ.

 

Nguồn: Quyết định 5418/ QĐ-BYT và Cục PC HIV/AIDS



Các tin liên quan:
  BÀI PHÁT THANH TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG NHIỄM GIUN CHO LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG
  TRUNG TÂM Y TẾ TP CẨM PHẢ TẬP HUẤN CÔNG TÁC TẨY GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở HỌC SINH TIỂU HỌC NĂM 2018
  Phát động hưởng ứng Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS
  Không phát hiện = không lây truyền
  Dự phòng trước phơi nhiễm HIV – Một chiến lược mới trong phòng, chống HIV/AIDS
  CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON
  Điều trị HIV bằng thuốc ARV sớm
  Bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nhiễm HIV/AIDS: Sự cần thiết, quyền lợi, thủ tục tham gia cũng như cách sử dụng BHYT khi khám chữa bệnh BHYT
  Hướng dẫn xử lý nước và vệ sinh môi trường trong mùa bão lụt
  Cách phòng tránh bệnh dại ở trẻ em và người lớn
  TRUNG TÂM Y TẾ TP CẨM PHẢ TỔ CHỨC LỚP TẬP HUẤN NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO TRUYỀN THÔNG VIÊN/ Y TẾ THÔN BẢN VỀ HIV/AIDS NĂM 2018
  Diễn tập đáp ứng khẩn cấp với sự kiện y tế công cộng
  Cẩm Phả chủ động phòng chống dịch bệnh mùa mưa lũ
  CHỦ ĐỘNG PHÒNG BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN
  DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON
   NỔI BẬT
TRUNG TÂM Y TẾ TP CẨM PHẢ TẬP HUẤN CÔNG TÁC TẨY GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở HỌC SINH TIỂU HỌC NĂM 2018
Phát động hưởng ứng Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS
Không phát hiện = không lây truyền
Dự phòng trước phơi nhiễm HIV – Một chiến lược mới trong phòng, chống HIV/AIDS
CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON
Điều trị HIV bằng thuốc ARV sớm
   ĐANG ONLINE
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Cơ quan chủ quản: TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
ttytcampha.vn - Phiên bản thử nghiệm
Chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ: Số 371 đường Trần Phú, Cẩm Thành, Cẩm Phả. Quảng Ninh
Điện thoại: 0333.862.285 / Fax: 0333.862.048
Email: ttyttpcp.syt@quangninh.gov.vn